Sản phẩm tiêu biểu

Video

Tin tức xem nhiều

  • Giống lúa DT45 “bén duyên” vùng Nam Trung Bộ
    DT45 là giống lúa thuần được TS. Phạm Ngọc Lương và nhóm tác giả của Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam chọn tạo và công nhận tạm thời từ năm 2010, được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận chính thức, đưa vào sản xuất đại trà từ vụ đông xuân 2013-2014.
  • Nghệ An: Giống ngô LVN 14 lại giành năng suất cao
    Dẫn chúng tôi ra thăm 40 ha ngô LVN14 tại vùng đất bãi ven sông Lam, ông Nguyễn Cảnh Lục, Chủ nhiệm HTX Thanh Dương, Thanh Chương, Nghệ An phấn khởi nói: Anh cứ nhìn tổng thể toàn bộ cánh đồng này thì sẽ nhận ra đâu là giống ngô LVN14 ngay.
  • Hội thảo về giống ngô lai LVN 14
    Ngày 13- 3, tại huyện Krông Nô, tỉnh Dak Nông, Tổng Công ty Cổ phần vật tư nông nghiệp Nghệ An phối hợp với Hội Nông dân 2 tỉnh Dak Nông và Dak Lak đã tổ chức Hội thảo đánh giá về năng suất, chất lượng giống ngô lai LVN14.
  • Bệnh bạc lá lúa - nguyên nhân và cách phòng tránh
    Thường bệnh xảy ra lúc mưa to và gió lớn . Lúa vụ mùa một số giống có tiềm năng năng suất cao thường hay bị bệnh bạc lá. Bệnh do vi khuẩn Xanthomonas Oryzea gây ra, khi mắc bệnh thì cây không có khả năng quang hợp để tạo dinh dưỡng nuôi hạt, từ đó những ruộng lúa bị bệnh bạc lá tỷ lệ lép rất cao, làm giảm năng suất rất lớn, có thể mất trên 50% năng suất.
  • Kỹ thuật nhận biết và biện pháp phòng trừ bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá và lùn sọc đen ở lúa Đông xuân.
    Hiện nay các bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá và lùn sọc đen là những bệnh do virus gây ra rất nguy hiểm đối với cây lúa đang xuất hiện ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước với diện tích gây hại lên tới hàng ngàn héc ta. Những diện tích lúa bị nhiễm bệnh nặng có thể dẫn tới nguy cơ mất mùa. Bệnh phát sinh, gây hại trên tất cả các giống lúa, trên các chân đất khác nhau nhưng chưa có thuốc đặc trị,
  • Bệnh lem lép hạt lúa
    Lem lép hạt lúa là tên gọi để chỉ chung hiện tượng hạt lúa có vỏ trấu sậm màu biến đổi từ màu nâu đến đen; từ đen lốm đốm đến đen toàn bộ vỏ trấu bao gồm cả trên hạt lúa có gạo và hạt lúa lép không có gạo ở giai đoạn cây lúa còn trên đồng ruộng trước khi thu hoạch

Bản đồ

Thống kê truy cập

  • Online: 1
  • Hôm nay: 8
  • Trong tháng: 1332
  • Tổng truy cập: 255589
Trang chủ » Cẩm nang » Giảm tổn thất sau thu hoạch

Câm nang

Giảm tổn thất sau thu hoạch

( 22-01-2018 - 09:42 PM ) - Lượt xem: 506

Gây thất thoát hàng chục ngàn tỉ đồng mỗi năm, làm hạn chế khả năng tiếp cận thị trường thế giới... đó là điểm yếu sau thu hoạch của ngành nông nghiệp Việt Nam.
 
Việt Nam đang lãng phí hàng chục ngàn tỉ đồng mỗi năm ở khâu sau thu hoạch các mặt hàng nông sản. Ảnh: Công Hân

Theo các nghiên cứu, tổn thất sau thu hoạch của cây lúa ở ĐBSCL mỗi năm trên 3.000 tỉ đồng, tương đương 10 - 12% tổng sản lượng. Theo Tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc (FAO), tại Việt Nam tổn thất sau thu hoạch đối với cây có hạt là khoảng 10%, đối với cây có củ là 10 - 20%, rau quả là 10 - 30%.
 
Hạn chế tiếp cận thị trường thế giới
 
Theo nghị định về chính sách hỗ trợ cơ giới hóa, giảm tổn thất trong nông nghiệp của Bộ NN-PTNT, mục tiêu đến năm 2020, những vùng nông nghiệp sản xuất hàng hóa tập trung cơ bản được cơ giới hóa và cơ giới hóa đồng bộ. Tổn thất sau thu hoạch đối với lúa gạo giảm từ 10% xuống còn 5 - 6%; thủy sản, rau quả xuống dưới 10% so với 20% hiện nay...
 
Theo GS-TS Bùi Chí Bửu, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học nông nghiệp miền Nam, với cây lúa tổn thất sau thu hoạch hiện nay còn rất lớn; với nhiều ngành khác chúng ta gần như chưa có công nghệ, máy móc gì ở khâu này. "Khâu thu hoạch và sau thu hoạch ở nhiều lĩnh vực của Việt Nam mới mấp mé ngưỡng công nghệ 2.0, ngoại trừ một số mô hình chăn nuôi công nghiệp được đầu tư tốt trong thời gian gần đây", GS Bùi Chí Bửu nói.
 
Đó lại là sự thật. Bằng chứng là ở ngành rau quả - “ngôi sao đang lên” của nông sản Việt, có khoảng 70% sản lượng xuất khẩu đi Trung Quốc dưới dạng thô, tươi trong khi các thị trường lớn khác như Hàn Quốc, Nhật, Mỹ, EU… số lượng rất hạn chế. Nguyên nhân chỉ đơn giản là khâu bảo quản, chế biến sau thu hoạch còn hạn chế nên chưa vào được thị trường cao cấp. Tương tự với ngành khai thác hải sản, cụ thể là cá ngừ đại dương, mặt hàng thị trường Nhật Bản rất ưa chuộng với giá thu mua rất cao. Các chuyên gia Nhật Bản đã sang tận Việt Nam để hỗ trợ khâu sau thu hoạch nhằm đưa sản phẩm vào thị trường Nhật. Tuy nhiên nhiều năm nay vẫn gặp rất nhiều khó khăn. Theo GS Bửu, sự tổn thất này không chỉ là tỷ lệ nông sản bị mất đi mà chúng ta có thể ước lượng được; cái mất lớn hơn là nó làm giảm chất lượng, giá trị của nông sản và đặc biệt là khả năng tiếp cận thị trường quốc tế. Để khắc phục hạn chế này, giải pháp tốt nhất chính là thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Muốn vậy phải có chủ trương chính sách của nhà nước khuyến khích doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nhà nước hỗ trợ bằng việc đầu tư cho các viện, trường đẩy mạnh nghiên cứu khoa học ở khâu sau thu hoạch.
 
Tổn thất hàng ngàn tỉ đồng
 
Tuy nhiên, báo cáo của Bộ NN-PTNT thừa nhận: Từ năm 2011 tới cuối tháng 6.2017, doanh số cho vay cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp đạt 8.132 tỉ đồng, ngân sách hỗ trợ lãi suất trên 600 tỉ đồng. Do lãi suất còn cao (8,55%/năm), không có sự chênh lệch nhiều so với lãi suất cho vay thương mại nên chưa khuyến khích đầu tư. Hiện tại máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp chủ yếu tập trung vào cây lúa, các lĩnh vực khác còn ít. Thế nên chỉ riêng lĩnh vực lúa gạo ở khu vực ĐBSCL, tổn thất đã lên đến khoảng 3.000 tỉ đồng. Nếu tính trên quy mô cả nền nông nghiệp, con số tổn thất sẽ là vài chục ngàn tỉ đồng mỗi năm. Sự lãng phí này đã được đề cập từ nhiều năm trước, tuy nhiên các chính sách, công cụ để cắt giảm sự tổn thất này chưa thật sự phát huy hiệu quả.
 
Theo TS Nguyễn Quốc Vong, chuyên gia Bộ Nông nghiệp bang New South Wales (Úc), để phát triển một sản phẩm nông nghiệp họ đi từ giống, quy trình sản xuất, chế biến và thị trường. Họ nghiên cứu toàn bộ đường đi như vậy và gắn nó với việc áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ vào từng khâu sản xuất.
 
Theo TS Arjo Rothuis, Giám đốc Hợp tác quốc tế khu vực châu Á (ĐH Wageningen, Hà Lan), để thúc đẩy ngành nông sản xuất khẩu phát triển cần có chiến lược cụ thể với tầm nhìn dài hạn. Từ đó xây dựng chính sách phù hợp và thu hút đầu tư cũng như hệ thống nghiên cứu đi kèm. Ở khâu sau thu hoạch không chỉ là việc phát triển công nghệ thực phẩm làm sao tươi ngon mà còn gia tăng thời gian sử dụng. Việc đóng gói, bảo quản, vận chuyển làm sao tiết kiệm năng lượng mà sản phẩm vẫn tươi ngon là những đòi hỏi mới hiện nay của nhà nhập khẩu và người tiêu dùng. Hiện nay các nước phát triển không chỉ hoàn thiện khâu sau thu hoạch mà còn phát triển lên một bước cao hơn là cải tiến cách thức đóng gói bao bì sản phẩm, công nghệ bảo quản, vận chuyển để làm sao tiết kiệm được năng lượng mà chất lượng sản phẩm không bị ảnh hưởng. "Hiện chúng tôi đã nghiên cứu thành công cách đóng gói sản phẩm, bảo quản tiết kiệm đến 65% năng lượng so với điều kiện bảo quản tiêu chuẩn cho các sản phẩm: táo, kiwi, lê, nho, xoài, ớt, dưa, quýt... Việt Nam muốn phát triển cần đầu tư mạnh cho khâu sau thu hoạch kết hợp với hạ tầng logistics để đưa nông sản tiếp cận thị trường nhanh hơn", vị này nói.
 
Chí Nhân (Báo Thanh Niên)